Từ điển tiếng Việt của GS Nguyễn Lân – Phê bình và khảo cứu (kỳ 28) | Văn Việt

Hoàng Tuấn Công

○ “Kẻ bất đẳng sợ người thượng đẳng (Thượng đẳng là người bậc trên, bất đẳng là ngược lại) Ý nói: Người bậc trên sợ những kẻ ngược lại, liều lĩnh”.

Thực ra, “Thượng đẳng” là người giàu có, quyền thế; “Bất đẳng” là người không thuộc tầng lớp quyền lực, nghèo khó. Vì là “bất đẳng” nên không có gì để mất, nên dám liều lĩnh, không quan tâm đến đạo lý, tôn trọng trật tự (như Bá Kiến phải sợ Chí Phèo). Câu đồng nghĩa: Vua sợ thằng liều; Sợ kẻ liều mạng, không sợ kẻ ủng hộ; Thứ nhất sợ kẻ anh hùng, thứ hai sợ kẻ gan dạ. Tục ngữ Hán: “Nhằm chân không sợ hỏi đường đi – 光腳不怕穿鞋的 – Chân trần không sợ chạm chân giày”. Mười năm sau, trong Từ điển từ và ngữ Việt Nam, GS Nguyễn Lân lại giải thích: “Người bậc trên sợ kẻ bất đẳng: Ý nói người bậc trên mà không có công lao gì, thì phải sợ cả kẻ nghèo: Vì tôi ăn hối lộ nên người bậc trên sợ kẻ bất đẳng”, cách giải thích này càng là sai thêm.

○ “Mắt nhỏ té ghế Tả người mắt không được mở to”.

Không đúng. “Mắt không được mở to”, khác với mắt nhỏ, ti hí như mắt lươn. Mặt khác, phép xem tướng của dân gian cho rằng, người mắt nhỏ té ghế là tướng trộm cắp, đĩ điếm: “Những người mắt nhỏ té ghế, Trai thì trộm cắp, gái buôn chồng người”, chứ không phải đơn thuần chỉ người mắt nhỏ, càng không phải “tả người mắt không được mở to”.

○ “Đáng tiếc một đoá hoa lan, con ong đã tìm được đường về Nói một người con gái đẹp đã rơi vào tay một người đàn ông tầm thường”.

Hai câu thơ trên trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, không biết căn cứ vào đâu mà GS Nguyễn Lân xếp vào thành ngữ, tục ngữ?

○ “Phân vân khó quyết định (Nghĩa đen: Đứng giữa tiến và lùi hai hướng khó) Nói về sự băn khoăn trước một sự việc không biết có nên làm hay không”.

Đây là một cụm từ không khó, GS Nguyễn Lân đã dịch và hiểu đúng “nghĩa đen”, nhưng lại giải thích sai ý nghĩa thành ngữ. Nghĩa mà GS Nguyễn Lân giảng là từ “lưỡng lự” 兩慮, Từ điển Vietlex giảng như sau: “lưỡng lự 兩慮 động từ, trong trạng thái còn đang suy tính để quyết định đúng hay không, chưa biết nên làm thế nào: “Tôi đột nhiên lưỡng lự không biết đối xử với con chó này như thế nào, bỏ nó lại, hay là mang nó đi?” (Kim Lân). Đn: do dự, đắn đo, phân vân”.

Có Thể Bạn Quan Tâm :   Dịch Cabin là gì? Phiên dịch Cabin có khó & thu nhập có cao không?

Còn “Phân vân khó quyết định” 進退兩難, tức là đã tiến hành công việc rồi, nhưng đứng giữa tình thế bế tắc, tiếp tục làm (tiến) cũng khó, mà quay lại (lùi) cũng khó. Trong khi “băn khoăn trước một sự việc không biết có nên làm hay không” thì công việc chưa tiến hành, vẫn còn có thể rút lại được. Hán điển (zidic.net): “Phân vân khó quyết định: Tiến về phía trước cũng khó, mà lùi lại cũng khó. Hình dung lâm vào tình thế khó khăn, bế tắc, tựa như ngồi trên lưng hổ”. (nguyên văn: “進退两难 jìntuì-liǎngnán [up a gum tree] 前进也难, 后退也难. 形容陷于困境和僵局, 骑虎难下-Phân vân khó quyết định:Tiền tiến dã nan, hậu tiến dã nan. Hình dung rơi vào tình cảnh khốn khổ, kỵ hổ nan hạ). Nghĩa là: Bách khoa (baike.baidu) giải thích như sau: “Phân vân khó quyết định: Tiến về phía trước và lùi về phía sau đều khó, đặt trong tình hình không thể giải quyết được, vì khó thao tác, hoàn cảnh rất khốn khổ”. (nguyên văn: “進退兩難: 前进和后退都难, 比喻事情无法决定, 因而以难操作, 外境困难-Phân vân khó quyết định: Tiền tiến hoà hậu tiến đô nan, tỉ dụ tình huống vô pháp quyết định, do khó thao tác, ngoại cảnh khốn khổ”).

○ “Tiếng chê tiếng cười Chỉ những lời chê bai chế nhạo lan truyền về hành vi, cử chỉ của người nào đó”.

Đúng ra là Lời chê, tiếng cười,hoặc Sự chê chế chứ không phải “Tiếng chê, tiếng cười”. Dân gian thường chú trọng vần vè, đối xứng, tạo hiệu quả cho cách nói, không phải cứ nôm na thế nào cũng đúng, bởi vậy không nên tự ý thay đổi.

○ “Má đen răng đen, đen hết nước lành Tức là: Có nhiều vấn đề không tốt. Thường dùng để miêu tả sự tức giận của một người”.

Không đúng. “Đen hết nước lành” là màu như thế nào? Màu đen của má và răng chỉ là màu tối, chứ không phải trạng thái tức giận. Thế nên, những vết thương phồng lên, thâm sạm, cũng thường được ví như thâm đen như má và răng. Còn bộ mặt tức giận (chứ không phải “tức giận”) cũng hay được liên kết với màu đen: Tức mặt như má đen, hoặc, Tức giận đến mức má và răng đen. Có ai nói là “Tức đen như má” đâu!

○ “Thóc tốt màu mạ tốt, mạ tốt thì lúa tốt Nói về việc cần chọn giống thóc tốt để gieo trồng để có năng suất cao. Nói rộng ra là từ nguyên nhân tốt thì kết quả mới tốt”.

Có Thể Bạn Quan Tâm :   Quỷ Satan và những bí ẩn khiến bạn rùng mình

Giải thích chưa chính xác. Câu tục ngữ này không chỉ nói về tầm quan trọng của việc “chọn giống thóc tốt” nói chung, mà còn nhấn mạnh sự cần thiết của việc chăm sóc mạ chái: giống tốt, thì mạ tốt; mạ tốt, thì lúa mới tốt. Mạ chái được chăm sóc kỹ, có cung cấp đủ dinh dưỡng, khỏe mạnh, cứng cáp; khi trồng, lúa sẽ nhanh bén rễ cây xanh tươi, đủ điều kiện đối phó với thời tiết khắc nghiệt (giá rét mùa xuân và nắng nóng mùa mưa) sinh trưởng nhanh, kháng sâu bệnh. Ngược lại, nếu mạ chái thiếu dinh dưỡng, yếu đuối; khi trồng dễ chết do đông, hoặc chết do nắng nóng hơn nữa bị sâu bệnh tấn công. Vì vậy, tục ngữ Việt còn có các câu toát lên tầm quan trọng của việc chăm sóc mạ chái, ngay từ giai đoạn mạ như: “Thưa mạ tốt lúa”,“Nhất ruộng, nhì mạ, thứ ba chuyên cần”. Tục ngữ Mường: “Muốn có lòng ăn phải chăm mạ, muốn có cá ăn phải chăm ao” (Nghĩa đen: Ơm ăn chăm chá nhà, ơm ăn chăm cá nương). Tục ngữ Tày: “Khôn thì chăm sóc cây mạ, dại thì chăm sóc ruộng” (Quaic chinh chảnh, vảic chinh lực)”; “Ruộng tốt là nhờ mạ tốt, con bụ bẫm lớn nhờ sữa” (Nà đây nhoọn chéo chừng nhoọc màônchạão). Tục ngữ Hán: “Con khỏe ở mẹ, lúa tốt ở mạNương hảo, nám hảo, oản hảo, đạo hảo – 娘好, 囡好, 秧好, 稻好”.

Cuối cùng, hình thức đúng của câu tục ngữ là “Tốt giống, tốt mạ” chứ không phải “Tốt giống, tốt mạ…”. “Mạ” (tiếng Việt cổ) chính là mạ, chỉ khi viết đúng theo cách trái văn của dân gian “Tốt giống, tốt má, tốt mạ tốt lúa”, mới thấy được sự phong phú của tiếng Việt.

○ “Anh hùng đẹp, gái thuyền quyên (Thuyền quyên là người đàn bà xinh đẹp) Nói về những nam nữ thanh niên hợp nhau”.

Đúng ra là: Anh tài gái sắc gặp nhau, đẹp đôi mới là lứa, chứ không phải “hợp nhau”. Từ điển sao giải nghĩa quá đơn giản như vậy?

○ “Trạng Quỳnh chết Chúa cũng hỏng(Nhắc lại một truyền thuyết về Trạng Quỳnh; Chúa là vua tự xưng) Ý nói: Làm hại người ta thì mình cũng gặp họa”.

Có Thể Bạn Quan Tâm :   Nước mót Hội An ở đâu? Có gì đặc biệt khiến bao người say đắm?

Lại thêm một trường hợp nhầm lẫn không đáng có. Nếu không có chú thích rõ ràng của tác giả “Chúa là vua tự xưng”, người ta sẽ nghĩ đây là lỗi đánh máy, “chúa” đánh nhầm thành “trẫm”. Câu tục ngữ này chính xác phải là “Trạng chết chúa cũng hỏng”, chứ không phải “trẫm cũng hỏng”. Có “trẫm” nào mà lại tự mình nói bất lịch sự như vậy? Đây là một lầm tưởng thường gặp của GS Nguyễn Lân mỗi khi giải thích tục ngữ, tục ngữ liên quan đến từ cổ điển. Tác giả không kiểm tra lại từ điển cổ điển, mà chỉ nhớ theo trí nhớ.

Tục ngữ “Trạng chết chúa cũng hỏng”, bắt nguồn từ câu chuyện dân gian cùng tên như sau: Sau khi bị Trạng Quỳnh chơi xỏ, cho ăn canh rau luộc tưới bằng nước tiểu, cá rô nuôi bằng phân của Trạng, nhà Chúa bị thù hận. Do đó, Chúa đã mời Quỳnh vào cung để cho uống thuốc độc. Quỳnh biết mình sẽ không sống lâu, nên trước khi đi, Quỳnh đã dặn vợ con: “Khi nào mình chết, không được phát tang ngay lập tức, cứ để mình trên giường, cắt hai đứa quạt trong phòng hầu, sau đó gọi các người diễn sĩ hát về, chỉ khi nào Chúa phát tang thì mới phát tang ra sau cổng”. Sau khi dặn xong, Quỳnh đi lên giường. […] Quỳnh biết Chúa thù hận vì chuyện canh rau trước đó, nhưng không thể chịu đựng nổi. Quỳnh đã thử ăn một miếng, rồi Chúa hỏi: “Khi nào Quỳnh chết?” Quỳnh trả lời: “Khi nào Chúa hỏng thì Quỳnh cũng chết”. Sau khi ăn xong, Quỳnh cảm thấy trong người mệt mỏi, rồi qua đời. Vợ con Quỳnh tuân theo lời dặn. Chúa đã sai người kiểm tra xem Quỳnh có bị yếu đuối gì không, nhưng thấy Quỳnh nằm trên giường nghe các diễn sĩ hát về, và nhà Quỳnh vui vẻ như không có gì sự, Chúa mới hoảng loạn và hỏi xem thuốc đã được trộn như thế nào mà Quỳnh không bị ảnh hưởng. Chúa thử ăn và chẳng bao lâu đã qua đời. Nhà Quỳnh nghe thấy từ nhà Chúa hát tang, cũng hát tang ở nhà. Người sau này có câu: “Trạng chết Chúa cũng hỏng, Dưa gang đỏ đít thì cà đỏ trơn”, ý nói: Quan hệ giữa các người thường có sự ràng buộc, nếu một người gặp nguy khốn thì người khác cũng không yên; Hại lương tương lương.

○ “Người gian chờ ta đánh chày

Back to top button