✴️ Bệnh giang mai (Syphilis)

Tổng quan

Bệnh lậy cóc là một bệnh truyền nhiễm qua quan hệ tình dục do vi khuẩn Treponema pallidum gây ra. Bệnh có thể gây tổn thương cho da, niêm mạc và nhiều cơ quan khác trong cơ thể, bao gồm cơ, xương, khớp, tim và hệ thần kinh. Bệnh thường lây qua quan hệ tình dục và có thể lây qua máu hoặc từ mẹ sang con. Bệnh có thể gây ra các biến chứng nghiêm trọng như lậy cóc thần kinh, lậy cóc tim mạch và lậy cóc bẩm sinh.

Epidemiology

+ Dựa theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), hàng năm có hơn 35 triệu ca nhiễm trùng qua đường tình dục xảy ra ở khu vực Châu Á-Thái Bình Dương, trong đó bệnh lậy cóc chiếm 2%.

+ Ở Việt Nam: Theo thống kê hàng năm, bệnh lậy cóc chiếm khoảng 2-5% tổng số các bệnh truyền nhiễm qua đường tình dục.

Nguyên nhân

Bệnh được gây ra bởi vi khuẩn có tên khoa học Treponema pallidum, có hình dạng như lò xo với từ 6-14 vòng lò xo, không quá 0,5 micromet, dài từ 6-15 micromet. Vi khuẩn này có khả năng di chuyển theo các hướng: di chuyển dọc theo trục làm việc như lò xo, di chuyển qua lại như kim cương treo và di chuyển xoắn qua lại như sóng.

Vi khuẩn lậy cóc rất yếu, ngoài cơ thể chỉ tồn tại vài giờ, chết nhanh chóng trong môi trường khô. Nếu có độ ẩm, vi khuẩn có thể sống được trong hai ngày. Vi khuẩn có thể tồn tại lâu ở nhiệt độ lạnh. Ở 56 độ C, vi khuẩn chết sau khoảng 15 phút. Nhiệt độ lý tưởng cho sự phát triển của vi khuẩn là 37 độ C. Vi khuẩn có thể bị diệt bởi xà phòng và các chất kháng khuẩn chỉ sau vài phút tiếp xúc.

Có Thể Bạn Quan Tâm :   Giới thiệu về phương pháp súc ruột “thải độc đại tràng” Enema

Vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể con người thông qua quan hệ tình dục qua âm đạo, hậu môn hoặc miệng. Ngoài ra, bệnh cũng có thể lây truyền gián tiếp qua các dụng cụ, vật dụng đã bị nhiễm vi khuẩn hoặc qua các vết thương trên da-niêm mạc khi không có biện pháp bảo vệ. Lây truyền qua máu có thể xảy ra khi truyền máu hoặc tiêm chích không an toàn. Bệnh cũng có thể lây từ mẹ sang con, thường xảy ra sau tháng thứ ba của thai kỳ và gây ra lậy cóc bẩm sinh.

Phân loại

Bệnh lậy cóc có thể được chia thành 2 loại:

Lậy cóc mắc phải (acquired syphilis): mắc bệnh do quan hệ tình dục với người bị lậy cóc, bao gồm các giai đoạn sau:

Lậy cóc giai đoạn sơ khai (gồm giai đoạn I): có thời gian ủ bệnh khoảng 3-4 tuần và kéo dài trong 23 tháng.

Lậy cóc giai đoạn phát ban và tái phát (gồm giai đoạn II): có biểu hiện là phát ban lậy cóc, mảng niêm mạc và sau đó có thể xuất hiện các tổn thương lậy cóc sâu hơn trên da. Có thể có nhiều đợt phát ban xen kẽ với các đợt bệnh ẩn, thường kéo dài trong 2 năm.

Có Thể Bạn Quan Tâm :   Hệ thống cân bằng điện tử ESC quan trọng như thế nào ?

Lậy cóc giai đoạn tĩnh (gồm giai đoạn kín sớm): các tổn thương lậy cóc biến mất, không có triệu chứng bên ngoài và hoạt động, thường xảy ra trong hai năm đầu.

Lậy cóc giai đoạn muộn và không lây truyền (> 2 năm): xuất hiện từ năm thứ ba trở đi, gồm:

Lậy cóc giai đoạn kín muộn: không có tổn thương lậy cóc trên da, có thể kéo dài vài tháng hoặc rất nhiều năm (có thể 10-20 năm hoặc lâu hơn). Thường chỉ phát hiện được qua xét nghiệm huyết thanh hoặc khi sinh con bị lậy cóc bẩm sinh.

Lậy cóc giai đoạn III: xuất hiện có thể hàng chục năm sau khi mắc bệnh. Có tổn thương lậy cóc sâu vào dưới da, niêm mạc, các cơ quan vận động (cơ, xương, khớp), tim và hệ thần kinh.

Lậy cóc bẩm sinh (congenital syphilis)

Lậy cóc bẩm sinh sớm: xuất hiện trong hai năm đầu sau khi sinh. Có các tổn thương tương tự như lậy cóc giai đoạn II.

Lậy cóc bẩm sinh muộn: xuất hiện từ năm thứ 2 sau khi sinh. Có các tổn thương tương tự như lậy cóc giai đoạn III.

Các biến chứng của lậy cóc bẩm sinh bao gồm các sẹo, dị hình như trán có hình dốc, trán trọc và mũi chưa hình yên ngựa, cong gối kiếm, ba triệu chứng Hutchinson (răng Hutchinson, bị điếc tạm thời, có lác quy tụ) do trẻ mắc lậy cóc từ khi còn ở trong tử cung.

Có Thể Bạn Quan Tâm :   Echo là gì? Tác dụng của echo trong hệ thống âm thanh

Chẩn đoán

Chẩn đoán xác định

Triệu chứng lâm sàng

Lậy cóc giai đoạn I

+ Vết loét (sốt mảnh)

Là tổn thương duy nhất, thường chỉ có một, xuất hiện tại nơi vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể. Vết loét lậy cóc thường xuất hiện sau khoảng 3-4 tuần (từ 10-90 ngày) sau khi nhiễm bệnh.

Vết loét có một số đặc điểm: hình tròn hoặc hình bầu dục, không có sự nổi, không có sự lún, bề mặt bằng, màu đỏ tươi. Bề mặt vết loét lậy cóc thường cứng như tấm bìa, đó là một đặc điểm quan trọng để phân biệt với các tổn thương khác. Vết loét lậy cóc không gây ngứa, không gây đau, không có mủ, không cần điều trị và tự khỏi. Thường đi kèm với viêm bạch huyết vùng xung quanh. Vị trí của vết loét thường nằm ở các vùng sinh dục (hơn 90% các trường hợp).

Ở phụ nữ: vết loét thường xuất hiện ở môi đại, môi tiểu, mép sau âm đạo, lỗ niệu đạo, cổ tử cung.

Ở nam giới: vết loét thường ở quy đầu, rãnh quy đầu, thân dương vật, vùng bên ngoài xương su, nách, xuống cẳng.

Back to top button