Phủ định là gì? Phủ định biện chứng là gì? Phủ định của phủ định.

“Phép biện chứng” là một thuật ngữ được sử dụng để chỉ một phương pháp lập luận triết học liên quan đến sự mâu thuẫn giữa các mặt đối lập. Trong phiên bản cổ nhất của “phép biện chứng”, cuộc tranh luận giữa các bên đối lập tạo ra một quá trình tiến triển tuyến tính trong quan điểm triết học: khi cuộc đối thoại diễn ra, những người tham gia đều điều chỉnh quan điểm của mình để đáp ứng những thách thức và đi đến những ý kiến tinh vi hơn. Phép biện chứng giữa Socrates và các đối thoại viên của ông trở thành phương pháp lập luận của Plato chống lại các triết gia trước đó.

1. Khái niệm của phủ định

– Phủ định là một trong những quy tắc cơ bản trong phép biện chứng, đại diện cho sự tiến bộ và liên tục trong quá trình phát triển, sự xuất hiện của những thứ mới và sự lặp lại tương đối của những yếu tố cũ.

– Đây không phải chỉ là việc trở lại điểm bắt đầu đơn giản, mà nó là “một khái niệm mới, một khái niệm cao hơn, phong phú hơn khái niệm trước đó, vì nó đã được làm phong phú hơn bằng cách thực hiện phủ định hoặc đối lập của nó; nó chứa đựng trong mình khái niệm cũ, nhưng nó đồng thời còn chứa đựng nhiều hơn khái niệm này, và nó là sự thống nhất giữa cái này và mặt đối lập của nó”. Do đó, quy tắc phủ định của phủ định là một hình thức phổ biến của việc tách rời một khái niệm và chuyển đổi mặt đối lập thành nhau – tức là một biểu hiện phổ biến của quy tắc thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập. Hegel đã tăng cường tầm quan trọng của quy tắc phủ định của phủ định và cố gắng “kết hợp” tất cả các quá trình thay đổi và phát triển vào đó.

– Phủ định trong tiếng Anh có nghĩa là “negative”.

2. Phủ định biện chứng là gì?

– Ý nghĩa của Adorno về nội dung chân lý nghệ thuật giả định trước các tuyên bố về tri thức luận và siêu hình đã được tìm hiểu kỹ lưỡng nhất trong phép biện chứng phủ định. Các tuyên bố này, lên tới một mức độ, làm mạnh mẽ và mở rộng các lập luận lịch sử và lý thuyết xã hội đã có. Như Simon Jarvis đã chứng minh, phép biện chứng phủ định cố gắng hình thành một “triết học duy vật” lịch sử và phê phán, nhưng không nhắm vào giáo điều. Cuốn sách cũng có thể được mô tả như một “siêu phẩm” của triết học duy tâm, đặc biệt là triết học của Kant và Hegel.

– Adorno cho biết cuốn sách nhằm hoàn thành công việc mà ông coi là nhiệm vụ suốt đời của mình là một triết gia: “sử dụng sức mạnh của chủ thể để vượt qua sự lừa dối của tính chủ thể cấu thành”.

Có Thể Bạn Quan Tâm :   Thơ ca là gì? Đặc trưng và phân loại thơ

– Khái niệm phủ định biện chứng chủ yếu là để bộc lộ nội dung của quy tắc phủ định của phủ định. Nếu cái cũ không bị phủ định, thì sự ra đời và phát triển của cái mới và do đó quá trình phát triển là không thể. Theo quy tắc phủ định của phủ định, sự phát triển diễn ra dưới dạng chu kỳ, mỗi chu kỳ bao gồm ba giai đoạn: trạng thái ban đầu của đối tượng, sự chuyển đổi thành mặt đối lập (nghĩa là phủ định của nó) và sự chuyển đổi từ mặt đối lập thành mặt đối lập của chính nó.

– Một số triết gia trong triết học tưởng tượng phủ định như là sự loại bỏ hoàn toàn, sự tiêu diệt tuyệt đối cái cũ và ý niệm về sự phá hủy văn hóa của quá khứ và sự ra đời của một văn hóa mới cộng sản. V.I. Lenin gọi sự phủ định đó là “trần trụi” và “không có mục đích”. Sự phát triển xảy ra khi cái mới không chỉ cắt bỏ sự tồn tại của cái cũ mà còn mang đi tất cả những gì tích cực và khả thi từ nó. Đây là sự “Tiếp theo trong liên tục,” hoặc sự kế tiếp trong quá trình phát triển.

3. Phủ định của phủ định là gì?

– Quy tắc phủ định của phủ định ban đầu được G. Hegel đề xuất, nhưng những đặc điểm cụ thể của nó đã được thiết lập trong triết học trước đó (tính biện chứng của sự phủ định, vai trò của tính liên tục trong phát triển và tính phi tuyến tính của hướng phát triển). Trong Hệ thống biện chứng của Hegel, sự phát triển là sự ra đời của một mâu thuẫn logic và sự phụ thuộc sau đó của nó. Theo quan điểm này, sự phát triển là sự ra đời của phủ định bên trong giai đoạn trước đó, sau đó là sự phủ định của mặt đối lập này. Trong một mức độ mà sự phủ định của sự phủ định trước đó được thực hiện bằng cách phủ định, thì một nghĩa nào đó, việc khôi phục cái đã bị phủ định, trở lại một giai đoạn phát triển trong quá khứ.

– Trong phép biện chứng duy vật, quy tắc phủ định của phủ định được coi là quy tắc phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy. Nếu quy tắc thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập làm lộ nguồn gốc của sự phát triển và quy tắc chuyển đổi các biến đổi về số lượng thành biến đổi về chất để tiết lộ cơ chế của sự phát triển, thì quy tắc phủ định của phủ định thể hiện hướng, hình thức và kết quả của sự phát triển.

Có Thể Bạn Quan Tâm :   Có thể bạn chưa biết F P/E là gì?

– Tác động của quy tắc phủ định của phủ định chỉ được bộc lộ hoàn toàn trong quá trình phát triển hoàn chỉnh thông qua một chuỗi các quá trình liên kết với nhau, khi một kết quả tương đối hoàn chỉnh của quá trình có thể được xác định. Ở mỗi giai đoạn cụ thể, quy tắc phủ định của phủ định thường chỉ hiện diện như một xu hướng.

– Trong quy tắc phủ định của phủ định, điều này được nhận định là “sự lặp lại ở giai đoạn cao hơn của một số đặc điểm… của giai đoạn thấp hơn và… sự trở lại rõ ràng của cái cũ”. Theo quan điểm phủ định biện chứng, việc vượt lên chủ nghĩa xã hội từ quan hệ sở hữu cá nhân, tiếp theo là sự thay thế tài sản công cộng sơ khai, đại diện cho hơn là “sự trở lại rõ ràng như cũ” – nghĩa là việc lặp lại một số yếu tố cần thiết của cái cũ trên một nền tảng khác, phát triển đáng kể hơn. Điều này cũng có nghĩa là chuyển sang một chu kỳ mới với những mâu thuẫn cơ bản và quy tắc chuyển động khác nhau.

– Sự liên tiếp của các chu kỳ tạo thành một chuỗi phát triển có thể được diễn đạt dưới dạng hình xoắn ốc. “Một sự phát triển lặp lại, kiểu như đã có, các giai đoạn đã trôi qua, nhưng lặp lại chúng theo một cách khác, trên cơ sở cao hơn, một sự phát triển, vì thế nó diễn ra theo một trục, không phải theo một đường thẳng”. Trong cách biểu diễn như vậy, mỗi chu kỳ là một vòng, một vòng xoắn trong quá trình phát triển, và chính vòng xoắn là một chuỗi các chu kỳ. Mặc dù hình xoắn ốc chỉ là hình ảnh của việc kết nối giữa hai hoặc nhiều điểm trong quá trình phát triển, nó nắm bắt được hướng chung của sự phát triển dựa trên quy tắc phủ định của phủ định.

– Trở lại cái đã trải qua không phải là việc hoàn toàn trở lại: sự phát triển không lặp lại những con đường đã đi mà tìm cách tìm ra những con đường mới phù hợp với các điều kiện bên ngoài và bên trong đã thay đổi. Quá trình phát triển càng phức tạp, càng có tính tương đối, càng có sự lặp lại của một số đặc điểm hoặc tính chất nhất định đã xuất hiện trong giai đoạn trước.

– Hình xoắn ốc không chỉ đại diện cho hình thức mà còn cho nhịp độ phát triển. Mỗi lần xoay hoặc cú quay mới của xoắn ốc, một con đường kém quan trọng hơn sẽ bị bỏ lại phía sau. Do đó, có thể nói rằng quá trình phát triển liên quan đến gia tốc nhịp độ và liên tục thay đổi quy mô thời gian của một hệ thống đang phát triển. Tính liên tục này được tìm thấy trong sự phát triển của tri thức khoa học, cũng như trong sự phát triển của xã hội và tự nhiên.

Có Thể Bạn Quan Tâm :   Nghiệp vụ là gì? Sự khác nhau giữa chuyên môn và nghiệp vụ?

– Trong hoàn cảnh hiện tại, cách duy nhất để ưu tiên thực thể trong triết học là thông qua phép biện chứng, theo lập luận của Adorno. Ông mô tả phép biện chứng là nỗ lực để nhận thức sự khác biệt giữa ý niệm và vật chất trong quá trình xác định khái niệm. Phép biện chứng là “tính nhất quán của ý thức với tính không đồng nhất” và mâu thuẫn, trung tâm của nó, là “tính không phân biệt dưới khía cạnh của tính nhất thể”. Ông nói, ý niệm chủ động chúng ta phải nhấn mạnh mâu thuẫn. Suy nghĩ là sự xác định và suy nghĩ chỉ có thể đạt được sự thật thông qua sự xác định. Do đó, hình thức (Schein) của tính nhất thể chỉ tồn tại trong suy nghĩ, phân rẽ với chân lý của suy nghĩ (Wahrheit).

– Cách duy nhất để vượt qua sự tách biệt hoàn toàn của danh tính là thông qua sử dụng khái niệm nội tại. Theo đó, sự khác biệt về chất lượng và sự đối đầu với sự hình thành khái niệm sẽ được thể hiện như một mâu thuẫn. “Sự mâu thuẫn là sự không phân biệt dưới góc độ bản chất [khái niệm]; sự ưu việt của nguyên tắc mâu thuẫn trong phép biện chứng kiểm tra tính không đồng nhất theo ý nghĩa nhất thể của suy nghĩ. Thuật lại mâu thuẫn trong thực tế, [phép biện chứng] là một mâu thuẫn chống lại thực tế”.

– Tuy nhiên, quan điểm về mâu thuẫn không chỉ đơn giản là tiêu cực. Nó có một chân trời mong manh, đầy biến đổi, cụ thể là, xã hội không còn chữa đầy các đối kháng cơ bản, và kỳ vọng rằng nó sẽ thoát khỏi sự cưỡng chế thống trị thông qua việc xác định khái niệm và sự phát triển mạnh mẽ của các vật thể cụ thể trong bản chất đặc thù của chúng.

– Vì Adorno tin rằng xã hội hiện đại có đủ tài nguyên để giảm bớt những đau khổ vẫn tồn tại, phép biện chứng phủ định của ông có một tầm không tưởng: “Theo quan điểm về khả năng cụ thể của điều không tưởng, phép biện chứng là biểu hiện triết học của tình trạng giả dối. Một điều kiện chính xác sẽ được giải phóng khỏi phép biện chứng, không có hệ thống nào vượt trội hơn mâu thuẫn”. Một “điều kiện thuận lợi” như vậy sẽ là sự hòa hợp giữa con người và thiên nhiên, bao gồm cả bản chất bên trong con người và giữa con người với nhau. Ý tưởng hòa giải này duy trì những suy ngẫm của Adorno về đạo đức học và siêu hình.

Back to top button