Sự khác nhau giữa Điều kiện hóa cổ điển và Điều kiện hóa từ kết quả

Điều kiện hóa cổ điển và điều kiện hóa từ kết quả là hai khái niệm quan trọng trong tâm lý học hành vi. Mặc dù cả hai đều đưa đến kết quả là chủ thể học được một hành vi nào đó, tuy nhiên hai quá trình diễn ra của chúng khá khác nhau. Để hiểu được từng chiến lược điều chỉnh hành vi này được áp dụng như thế nào, ta cần hiểu được sự khác biệt giữa chúng.

Classical and operant conditioning are two necessary ideas central to behavioral psychology. Whereas each end in studying, the processes are fairly completely different. To know how every of those habits modification strategies can be utilized, it is usually important to know how classical conditioning and operant conditioning differ from each other.

maxresdefault.jpg
Nguồn: YouTube

Hãy cùng nhau tìm hiểu một số điểm khác biệt cơ bản nhất. Let’s begin by among the most simple variations.

Điều kiện hóa cổ điển.

Classical Conditioning

Điều kiện hóa từ kết quả.

Operant Conditioning

– Được mô tả lần đầu tiên bởi Ivan Pavlov, một nhà sinh lý học người Nga. First described by Ivan Pavlov, a Russian physiologist

– Là quá trình đưa vào một tín hiệu trung tính trước khi một phản ứng xuất hiện. Entails putting a impartial sign earlier than a reflex

– Tập trung vào hành vi không chủ ý, tự động. Focuses on involuntary, computerized behaviors

– Được mô tả lần đầu tiên bởi B. F. Skinner, một nhà tâm lý học người Mỹ. First described by B. F. Skinner, an American psychologist

– Là quá trình sử dụng củng cố hoặc trừng phạt sau khi một hành vi xuất hiện. Entails making use of reinforcement or punishment after a habits

– Tập trung vào củng cố hoặc làm suy yếu hành vi có chủ ý. Focuses on strengthening or weakening voluntary behaviors

Cách thức hoạt động của điều kiện hóa cổ điển. How Classical Conditioning Works

Dù bạn không phải là sinh viên tâm lý thì bạn ít nhiều gì cũng từng nghe về câu chuyện của Pavlov và những chú chó. Trong thí nghiệm nổi tiếng của mình, Ivan Pavlov thấy rằng chó bắt đầu nhỏ dãi phản ứng lại một tiếng động sau khi âm thanh này được lặp đi lặp lại kèm theo sự xuất hiện của đồ ăn. Pavlov nhanh chóng nhận ra rằng đây chính là một phản ứng do học tập mà thành, phát hiện này dọn đường để từ đó ông đào sâu hơn tim hiểu quá trình điều kiện hóa.

Even in case you are not a psychology scholar, you’ve in all probability at the very least heard about Pavlov’s canine. In his well-known experiment, Ivan Pavlov observed canine started to salivate in response to a tone after the sound had repeatedly been paired with presenting meals. Pavlov rapidly realized that this was a realized response and got down to additional examine the conditioning course of.

Điều kiện hóa cổ điển là quá trình tạo ra một liên tưởng giữa kích thích tồn tại tự nhiên và kích thích vốn trung tính. Nghe có vẻ hơi rối nhưng ta thử phân tích một chút:

Classical conditioning is a course of that includes creating an affiliation between a naturally present stimulus and a beforehand impartial one. Sounds complicated, however let’s break it down:

Quá trình điều kiện hóa cổ điển là kết đôi một kích thích vốn trung tính (như tiếng chuông) với một kích thích không điều kiện (mùi vị đồ ăn).

The classical conditioning course of includes pairing a beforehand impartial stimulus (such because the sound of a bell) with an unconditioned stimulus (the style of meals).

Kích thích vô điều kiện này gây phản ứng nhỏ dãi trước đồ ăn một cách tự nhiên và tự động, được gọi là phản ứng không điều kiện. Sau khi mối liên tưởng giữa kích thích trung tính và kích thích vô điều kiện hình thành, chỉ cần tiếng chuông thôi cũng đủ để gây ra phản ứng nhỏ dãi. Tiêng chuống kêu được gọi là kích thích có điều kiện và phản ứng nhỏ dãi khi chuông kêu gọi là phản ứng có điều kiện.

This unconditioned stimulus naturally and mechanically triggers salivating as a response to the meals, which is called the unconditioned response. After associating the impartial stimulus and the unconditioned stimulus, the sound of the bell alone will begin to evoke salivating as a response. The sound of the bell is now generally known as the conditioned stimulus and salivating in response to the bell is called the conditioned response.

Có Thể Bạn Quan Tâm :   Nhân lực là gì? Vai trò của nguồn nhân lực với doanh nghiệp

Giờ hãy tưởng tượng một con chó nhỏ dãi khi nhìn thấy đồ ăn. Phản ứng này của con vật xuất hiện tự động. Nó không cần phải được huấn luyện để thực hiện hành vi này; hành vi này xuất hiện một cách hết sức tự nhiên.

So think about a canine that salivates when it sees meals. The animal does this mechanically. He doesn’t have to be skilled to carry out this habits; it merely happens naturally.

Đồ ăn là kích thích xuất hiện tự nhiên. Nếu bạn cứ rung chuông lại chìa đồ ăn ra cho con chó, liên tưởng giữa đồ ăn và tiếng chuông sẽ được hình thành. Cuối cùng khi chỉ có mỗi tiếng chuông thôi, tức kích thích có điều kiện, cũng để tạo ra phản ứng nhỏ dãi ở con vật này.

The meals is the naturally occurring stimulus. When you began to ring a bell each time you introduced the canine with meals, an affiliation can be fashioned between the meals and the bell. Ultimately the bell alone, a.okay.a. the conditioned stimulus, would come to evoke the salivation response.

Nguồn: Look after Reactive Canines

Điều kiện hóa cổ điển không chỉ là một thuật ngữ cơ bản dùng để mô tả một phương thức học tập; mà nó còn giúp giải thích sự ảnh hưởng của nhiều hành vi lên sức khỏe. Hãy cứ thử nghĩ xem một thói quen xấu hình thành như thế nào. Thậm chí dù bạn có đang trong quá trình tập thể dục và ăn uống lành mạnh thì việc ăn đêm vẫn gây khó khăn cho nỗ lực ăn kiêng của bạn.

Classical conditioning is way more than only a primary time period used to explain a technique of studying; it could additionally clarify what number of behaviors kind that may impression your well being. Take into account how a foul behavior may kind. Though you’ve been figuring out and maintaining a healthy diet, nighttime overeating retains tripping up your weight-reduction plan efforts.

Nhờ điều kiện hóa cổ điển, bạn hẳn đã hình thành một thói quen cứ mỗi lần quảng cáo giữa chương trình tivi là bạn sẽ chạy vào bếp kiếm cái bỏ vào miệng. Những đoạn quảng cáp ấy vốn là một kích thích trung tính, lặp đi lặp lại kèm theo một kích thích không điều kiện (đồ ăn ngon bỏ vào miệng) đã biến những đoạn quảng cáo thành kích thích có điều kiện. Giờ mỗi lần bạn thấy quảng cáo, cơn thèm ăn của bạn trỗi dậy.

Due to classical conditioning, you may need developed the behavior of heading to the kitchen for a snack each time a industrial comes on while you’re watching your favourite tv program. Whereas industrial breaks had been as soon as a impartial stimulus, repeated pairing with an unconditioned stimulus (having a scrumptious snack) has turned the commercials right into a conditioned stimulus. Now each time you see a industrial, you crave a candy deal with.

Cách thức hoạt động của điều kiện hóa từ kết quả. How Operant Conditioning Works

Điều kiện hóa từ kết quả tập trung vào việc sử dụng hình thức củng cố hoặc trừng phạt để gia tăng hay giảm thiểu hành vi. Qua quá trình này, một liên tưởng giữa hành vi và hệ quả cho hành vi đó được hình thành. Ví dụ, tưởng tượng một huấn luyện viên đang cố dạy con chó lấy banh về. Khi con chó chạy và nhặt bóng thành công, nó sẽ nhận được một lời khen, một phần thưởng. Khi con vật không lấy lại được trái banh, người huấn luyện sẽ rút, không cho nó phần thưởng nữa.

Operant conditioning focuses on utilizing both reinforcement or punishment to extend or lower a habits. By way of this course of, an affiliation is fashioned between the habits and the implications for that habits. For instance, think about {that a} coach is attempting to show a canine to fetch a ball. When the canine profitable chases and picks up the ball, the canine receives reward as a reward. When the animal fails to retrieve the ball, the coach withholds the reward.

Có Thể Bạn Quan Tâm :   Động cơ Turbo tăng áp kép là gì? Phân biệt Bi-Turbo và Twin Turbo?

Cuối cùng, con chó cũng hình thành một liên tưởng giữa hành vi lấy được banh mang về và việc nhận được phần thưởng nó mong muốn.

Ultimately, the canine types an affiliation between his habits of fetching the ball and receiving the specified reward.

Một ví dụ khác, tưởng tượng một giáo viên phạt học sinh của mình vì nói chuyện gây mất trật tự bằng cách không cho học sinh này ra ngoài chơi giờ giải lao. Kết quả là học sinh này hình thành liên tưởng giữa hành vi (nói chuyện mất trật tự) và hậu quả (không được ra ngoài chơi). Kết quả là, hành vi có vấn đề của cậu bé này giảm đi.

For one more instance, think about {that a} schoolteacher punishes a scholar for speaking out of flip by not letting the scholar go outdoors for recess. Consequently, the scholar types an affiliation between the habits (speaking out of flip) and the consequence (not with the ability to go outdoors for recess). Consequently, the problematic habits decreases.

image-4.jpg
Nguồn: StoryWeaver

Có một số yếu tố có thể ảnh hưởng lên tốc độ học tập một phản ứng và cường độ của phản ứng đó. Tần suất củng cố phản ứng, được gọi là khung thời gian củng cố, có thể đóng một vai trò quan trọng quyết định tốc độ học tập một hành vi và cường độ của phản ứng này. Loại củng cố sử dụng cũng có tác động lên phản ứng.

Plenty of components can affect how rapidly a response is realized and the power of the response. How typically the response is bolstered, generally known as a schedule of reinforcement, can play an necessary position in how rapidly the habits is realized and the way sturdy the response turns into. The kind of reinforcer used may have an effect on the response.

Ví dụ, khung củng cố theo tỷ lệ linh hoạt sẽ đưa đến mức phản ứng cao và đều đặn, còn khung củng cố theo quãng linh hoạt sẽ tạo ra mức phản ứng chậm và đều đặn.

For instance, whereas a variable-ratio schedule will end in a excessive and regular charge of response, a variable-interval schedule will result in a gradual and regular response charge.

Ngoài việc được sử dụng để huấn luyện người và động vật giúp học tập hành vi mới thì điều kiện hóa từ kết quả có thể cũng được áp dụng để giúp con người xóa bỏ những hành vi không mong muốn. Sử dụng một hệ thống phần thưởng và hình phạt, con người ta có thể học cách vượt qua những thói quen xấu gây ảnh ảnh tiêu cực lên sức khỏe như hút thuốc lá hoặc ăn uống vô độ.

Along with getting used to coach folks and animals to have interaction in new behaviors, operant conditioning will also be used to assist folks eradicate undesirable ones. Utilizing a system of rewards and punishments, folks can study to beat dangerous habits that may have a destructive impression on their well being comparable to smoking or overeating.

Sự khác nhau giữa điều kiện hóa cổ điển và điều kiện hóa từ kết quả. The Variations Between Classical and Operant Conditioning

Một trong những cách đơn giản nhất để nhớ được những điểm khác nhau giữa điều kiện hóa cổ điển và điều kiện hóa từ kết quả là tập trung xem xem hành vi ở đây là có chủ ý hay không có chủ ý.

One of many easiest methods to recollect the variations between classical and operant conditioning is to deal with whether or not the habits is involuntary or voluntary.

Điều kiện hóa cổ điển là liên tưởng một phản ứng không chủ ý và một kích thích, trong khi điều kiện hóa từ kết quả là liên tưởng một hành vi có chủ ý và một hệ quả.

Classical conditioning includes associating an involuntary response and a stimulus, whereas operant conditioning is about associating a voluntary habits and a consequence

Trong điều kiện hóa từ kết quả, người học được thưởng, trong khi ở điều kiện hóa cổ điển không có hoạt động này. Ngoài ra, hãy nhớ rằng ở điều kiện hóa cổ điển, người học ở thế bị động, trong khi điều kiện hóa từ kết quả yêu cầu người học phải chủ động tham gia và thực hiện một số hoạt động để được thưởng hoặc bị phạt.

Có Thể Bạn Quan Tâm :  

In operant conditioning, the learner can also be rewarded with incentives, whereas classical conditioning includes no such enticements. Additionally, do not forget that classical conditioning is passive on the a part of the learner, whereas operant conditioning requires the learner to actively take part and carry out some kind of motion so as to be rewarded or punished.

Để điều kiện hóa từ kết quả xuất hiện, đầu tiên chủ thể phải thực hiện một hành vi nào đó có thể giúp chủ thể được thưởng hoặc bị phạt sau đó. Trong khi đó, điều kiện hóa cổ điển là hình thành một liên tưởng với một sự kiện nào đó vốn tự nhiên đã có.

For operant conditioning to work, the topic should first show a habits which might then be both rewarded or punished. Classical conditioning, alternatively, includes forming an affiliation with some type of already naturally occurring occasion.

Nguồn: PsycholoGenie

Ngày nay, cả điều kiện hóa cổ điển và điều kiện hóa từ kết quả đều được sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau bởi các giáo viên, cha mẹ, các nhà tâm lý học, người huấn luyện động vật và nhiều ngành nghề khác. Khi áp dụng điều kiện hóa lên động vật, người huấn luyện có thể sử dụng điều kiện hóa cổ điển bằng cách liên tục kết hợp tiếng của clicker (móc khóa có nút bấm tạo âm thanh lách cách nhỏ) với vị đồ ăn. Cuối cùng, chỉ cần tiếng của clicker thôi cũng đủ để chó thực hiện hành vi tương tự như khi có đồ ăn.

At the moment, each classical and operant conditioning are utilized for quite a lot of functions by academics, dad and mom, psychologists, animal trainers, and lots of others. In animal conditioning, a coach may make the most of classical conditioning by repeatedly pairing the sound of a clicker with the style of meals. Ultimately, the sound of the clicker alone will start to supply the identical response that the style of meals would.

Trong bối cảnh lớp học, giáo viên có thể sử dụng điều kiện hóa từ kết quả bằng cách dùng phiếu quà làm phần thưởng cho hành vi tốt. Học sinh có thể đổi những phiếu này thành một số phần thưởng như một bữa ăn hoặc thêm thời gian chơi. Trong mỗi tình huống này, mục tiêu của điều kiện hóa là để kiến tạo một số thay đổi nào đó về hành vi.

In a classroom setting, a instructor may make the most of operant conditioning by providing tokens as rewards for good habits. College students can then flip in these tokens to obtain some kind of reward comparable to a deal with or further play time. In every of those cases, the aim of conditioning is to supply some type of change in habits.

Kết luận. Closing ideas

Điều kiện hóa từ kết quả và điều kiện hóa cổ điển đều là hai khái niệm học tập quan trọng xuất phát từ tâm lý học hành vi. Mặc dù hai dạng điều kiện hóa này có một số điểm tương đồng nhưng việc hiểu được những khác biệt mấu chốt giữa chúng là cần thiết để xác định phương pháp tốt nhất có thể, phù hợp nhất cho từng tình huống học tập cụ thể.

Classical conditioning and operant conditioning are each necessary studying ideas that originated in behavioral psychology. Whereas these two forms of conditioning share some similarities, it is very important perceive among the key variations so as to finest decide which method is finest for sure studying conditions.

Tham khảo. View Article Sources

McSweeney, FK & Murphy, ES. The Wiley Blackwell Handbook of Operant and Classical Conditioning. Oxford: John Wiley & Sons; 2014.

Nevid, JS. Necessities of Psychology: Ideas and Purposes. Belmont, CA: Wadsworth; 2012.

Nguồn: https://www.verywellmind.com/classical-vs-operant-conditioning-2794861

Như Trang.

Back to top button